TỔ ĐÌNH KIM LIÊN
Kiến tạo Phật trường, hoằng dương chính Pháp
03:00 | 05/10/2017 (GMT+7)

Chùa Đồng Đắc - nguồn gốc hình thành (Lã Đăng Bật)

Có thể nói, kiến trúc tôn giáo sớm nhất ở Kim Sơn là chùa Đồng Đắc. Nó có trước quần thể kiến trúc nhà nhờ thờ đá Phát Diệm mấy chục năm.Chùa Đồng Đắc thuộc xã Đồng Hướng, huyện Kim Sơn, lớn nhất ở vùng Công giáo Kim Sơn. Không chỉ xây dựng rất sớm trên miền đất trẻ, mà nó lại được tọa lạc trên một khu đất cao, rộng khoảng 5 mẫu, trông rất đồ sộ, bề thế.
Ngôi chùa này có được là nhờ sử tổ họ Lê trước đây trụ trì ở chùa Phúc Nhạc (xã Khánh Nhạc, huyện Yên Khánh) và Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ.
Những người dân theo đạo Phật và ngay cả những người dân Công giáo Kim Sơn cũng đều đến lễ ở chùa Đồng Đắc.
Trong thời gian đang tổ chức khẩn hoang tại Tiền hải, Nguyễn Công Trứ đã đến miền đất mở sa bồi, sình lầy, mênh mông ở ven biển Ninh Bình để xem xét tình hình trước khi lên quy hoạch chỉ đạo khẩn hoang. Đến đây, ông gặp những nghĩa quân của Phan Bá Vành trên vùng đất hoang sơ ven biển đó. Cũng vì sợ nghĩa quân Phan Bá Vành báo thù quân của triều đình, nên Nguyễn Công Trứ không dám xuất hiện công khai. Ông phải bí mật cải trang làm thầy tu và ở luôn chùa Phúc Nhạc để đi xem xét ruộng bãi. Ông được nhà sư họ Lê giúp đỡ rất tận tình nơi ăn, chốn ở và cùng nhau bàn bạc công cuộc khẩn hoang. Nhà sư họ Lê đã tìm người đưa đường đi thị sát bãi bồi cho Nguyễn Công Trứ là ông Phạm Đình Nhương.
Quan hệ gắn bó giữa Nguyễn Công Trứ và nhà sư họ Lê trụ trù tại chùa Phúc Nhạc đã có từ đó. Họ cùng giúp nhau để làm điều lành, việc thiện, có lợi cho người dân.
Vì vậy, đến năm 1829, huyện Kim sơn được thành lập, nhà sư họ Lê muốn đến huyện mới để xây dựng chùa. Nhà sư đã được Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ giúp đỡ tận tình ngay, cho chọn một khu đất cao, trung tâm nhất ở xã Đồng Đắc để xây chùa. Mảnh đất đó có hình con dao cầu (dao thái thuốc). Vì thế, từ khi trụ trì ở chùa, nhà sư họ Lê đã làm một loại thuốc chữa bệnh phong tê thấp để cứu dân độ thế. (Từ khi có chùa đến ngày nay, các nhà sư ở đây đều làm thứ thuốc này. Thuốc rất hiệu nghiệm, chữa khỏi bệnh cho nhiều người). Năm 1838, nghĩa là sau 9 năm huyện Kim Sơn thành lập, nhà sư họ Lê đã xây dựng xong ngôi chùa Đồng Đắc và đặt tên là chùa “Kim Liên”. Việc xây dựng một ngôi chùa với quy mô lớn trên nền đất sa bồi, sình lầy rất vất vả và tốn kém ở giai đoạn làm móng chùa. Chùa Đồng Đắc xây dựng xong, nhà sư họ Lê rời bỏ chùa Phúc Nhạc đến chùa Đồng Đắc trụ trì.
Hiện nay tấm bia dựng ở chùa Đồng Đắc còn ghi rõ: “Kim Sơn hữu huyện thủy ư Minh Mệnh thập niên, Kỷ Sửu, thành ư Doanh điền Nguyễn Công. Ngã tổ sư Lê hậu, nguyên trụ trì Phúc Nhạc tự, Nguyễn tướng công tăng giả quán chi”.
(Nghĩa là: Huyện Kim Sơn có vào thời Minh Mệnh thứ 10, năm Kỷ Sửu, do Nguyễn Công Trứ thành lập. vị tổ sư của chùa ta (chùa Đồng Đắc) họ Lê, nguyên trụ trì ở Phúc Nhạc, Nguyễn tướng công (Nguyễn Công Trứ) giả làm thầy tu ở đó).
Có thể nói, kiến trúc tôn giáo sớm nhất ở Kim Sơn là chùa Đồng Đắc. Nó có trước quần thể kiến trúc nhà nhờ thờ đá Phát Diệm mấy chục năm.
Chùa Đồng Đắc kiến trúc theo kiểu chữ “đinh” (hán tự), phần ngang là Tiền đường, phần dọc là Chính điện hay Thượng điện – chỗ thâm nghiêm để thờ Phật.
Chùa được xây dựng bằng những cột gỗ lim cao, to. Vì, kèo, xà ngang, xà dọc cũng bằng gỗ lim. Điều độc đáo là ở chỗ những chỗ lồi lõm của vì kèo, trụ, ván nong, ván lưng cánh cửa,… đều được chạm bong kênh, chạm lộng, tạo thành những tác phẩm nghệ thuật trên gỗ tuyệt đẹp. Mỗi bức chạm như được thổi một luồng sinh khí đem đến vẻ đẹp sống động, lạ kỳ. Trước Thượng điện, có cửa vọng chạm lộng, thếp vàng làm nền cho Phật điện, như lóe lên một điểm sáng của ánh vàng để hướng con người vào cõi Phật. Đây là tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao.
Chùa Đồng Đắc được xây theo hướng tây, tây nam. Tiền đường gồm 7 gian lớn, đặt tượng Đức Ông, tượng Đức Thánh Hiền và hai tượng Hộ Pháp cao to. Bên trên cửa vọng treo bức đại tự gồm 3 chữ hán: “Kim Liên Tự” (chùa Kim Liên, chùa sen vàng). Ở Thượng điện – nơi thờ Phật (nhà dọc) 3 gian, đặt các tượng Phật thứ tự từ trên cao xuống thấp như sau:
-         Hàng thứ nhất: bày 3 pho tượng Tam thế (Quá khứ, Hiện tại, Tương lai). Ba tượng này đều ngồi trên tòa sen.
-         Hàng thứ hai: Di Đà tam tôn. Tượng A Di Đà ở giữa. Tượng Đại Thế Trí bên phải tượng A Di Đà và bên trái là tượng Quan Thế Âm.
-         Hàng thứ ba: Hoa Nghiêm Tam Thánh: Thích Ca Mâu Ni ở giữa, ngồi trên tòa sen, mặc áo pháp để hở vai, tay cầm hoa sen. Tượng Ca Diếp ở bên trái tượng Thích Ca, Tượng A Nan Đà bên phải.
-         Hàng thứ tư: Tượng Chuẩn Đề Bồ tát (ở giữa), bên phải tượng Chuẩn Đề Bồ Tát là tượng Thiện Tài. Bên trái là tượng Long Nữ.
-         Hàng thứ năm: Thích Ca sơ sinh, còn gọi là Thích Ca Cửu Long đặt ở giữa. Tượng là một hài nhi khôi ngô tuấn tú đứng trên tòa sen, mặc quần ngắn, tay trái chỉ trời, tay phải chỉ đất, xung quanh có 9 con rồng. Chín con rồng là thể hiện toàn bộ mây nước linh thiêng để tắm Phật khi xuất thế. Bên phải tượng Cửu Long là tượng Văn Thù Bồ tát. Bên trái tượng Cửu Long là tượng Phổ Hiền Bồ Tát.
Các tượng Phật và Bồ tát ở thế đứng, chủ yếu là ngồi, diện tượng từ bi, đôn hậu, miệng thoáng nụ cười cứu độ, mũi thẳng đầy đặn, mắt nhìn xuống soi rọi nội tâm. Tất cả các pho tượng Phật đều uy nghiêm, nhân từ và sơn son thếp vàng.
Bên trên hàng tượng Phật cao nhất cũng treo bức đại tự có 4 chữ hán: “Tuệ Giám Vô Tư” (trí tuệ của Đức Phật đạt tới cảnh giời vô lậu). Bức đại tự ở giữa cũng có 4 chữ hán: “Vạn Đức Trang Nghiêm”.
Ở hai cột đá trong Thượng điện có cấu đối:
Thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt
Vạn lý vô vân vạn lý thiên
(Muôn sóng ngàn suối còn mãi với thời gian
Muôn trời vạn đất tồn tại theo năm tháng)
Điều độc đáo nữa của chùa Đồng Đắc là nhà tăng đường không xây sau điện Phật mà nối liền với Tiền đường của chùa, gồm 5 gian lui về phía Bắc và điện Mẫu, 5 gian cũng nối theo Tiền đường của chùa lui về phía nam, đều quay hướng tây – tây nam, đã tạo cho tiền đường của chùa Tổ đường, và điện Mẫu dài đến 17 gian. Nền của Tổ đường và điện Mẫu có thấp hơn so với nền chùa.
Ở điện Mẫu có treo một quả chuông đúc từ năm Quý Mão, Thiệu Trị thứ ba (năm 1843).
Chùa Đồng Đắc xây dựng với quy mô lớn, bề thế, có thư viện (3 gian), nhà Trai – nơi sinh hoạt của tăng đoàn (5 gian), nhà khách (3 gian), những phòng ăn nghỉ của các nhà sư (9 gian),… nối liền với hai đầu dãy Tiền đường của Tăng đường và điện Mẫu, rồi vòng về phía đông, tạo thành kiến trúc hình chữ “khẩu” khép kín.
Phía trước Tiền đường của chùa là sân gạch và một hồ rộng trồng sen, tạo ra âm dương đối đãi.
Ngoài ra, vườn chùa còn có 7 ngôi tháp là nơi an táng xá lợi của các tổ sư đã trụ trì qua các thời kỳ. Hiện nay, chùa đã xây tường bao quanh, xây dựng hai Tam quan đi vào chùa, có nhà đặt thập bát La Hán, và đặt bốn khu tượng tái hiện lại lịch sử của đạo Phật Thích Ca trong 4 giai đoạn: đản sinh, xuất gia, thành đạo, niết bàn.
Các nhà sư trụ trì ở chùa Đồng Đắc có Phạm Đức Nhuận, tức Thích Đức Nhuận (mất năm 1993) đã trở thành “Hòa thượng Pháp chủ giáo hội tăng già nước Việt Nam”. Ngài đã được chủ tịch nước tặng huân chương độc lập hạng nhất do có nhiều công lao đóng góp cho sự nghiệp thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, chùa Đồng Đắc là nơi hoạt động của một số cán bộ, cũng là nơi ở của bộ đội.
Cách ngày nay 40 năm, chùa Đồng Đắc là nơi đào tạo tăng tài. Từ năm 2005, chùa Đồng Đắc trở thành cơ sở II – Trường Hạ của Hội Phật giáo Ninh Bình. Trường hạ mở lớp từ ngày 15 tháng 5 (âm lịch) đến hết ngày 15 tháng 8 (âm lịch). Tất cả các sư và tiểu ở huyện Yên Mỗ, huyện Kim Sơn và một nửa huyện Yên Khánh đều đến đây học Hạ. Nội dung của học Hạ gồm 3 phần:
1.   Nâng cao kiến thức Phật học.
2.   Trau dồi tam vô lậu học
3.   Quảng bá giáo lý của đạo Phật
Nhân dân huyện Kim Sơn rất tự hào có quần thể kiến trúc nhà thờ đá Phát Diệm lại có chùa Đồng Đắc ở một vùng Công giáo kính Chúa, yêu nước.
 
Lã Đăng Bật

 
 Bản để in
TỔ ĐÌNH KIM LIÊN