TỔ ĐÌNH KIM LIÊN
Kiến tạo Phật trường, hoằng dương chính Pháp
03:16 | 05/10/2017 (GMT+7)

CHÙA YÊN PHÚ BIỂU TƯỢNG YÊU NƯỚC TRUYỀN THỐNG CỦA NHÂN DÂN YÊN PHÚ (PGS.TS. MAI HỒNG)

A.                 THỜI KỲ CỔ ĐẠI VÀ CẬN ĐẠI VIỆT NAM 1.      TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN VÀ DI TÍCH LỊCH SỬ        Chúng tôi đã có đôi ba lần đến công tác tại thôn Yên Phú, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì thuộc ngoại thành Hà Nội để tìm hiểu về lịch sử ngôi chùa làng của người dân vùng này. Bởi lẽ, từ ngàn xưa, mối quan hệ làng xã của người dân Việt Nam thường gắn bó với ngôi chùa bằng câu thành ngữ " Đất vua chùa làng". Có một ngôi làng của Việt Nam lại không có một ngôi chùa thờ Phật, sớm sớm chiều chiều ngân nga tiếng chuông chùa làm ấm thêm cho tình làng nghĩa xóm. Cũng bởi vậy mà chùa làng đã có tác dụng an ủi, che chở cho người làng vượt qua mọi hiểm họa thiên nhiên và giặc giã...Hơn thế nữa, chùa làng Việt Nam đã tham gia vào tất cả các cuộc kháng chiến chống xâm lăng trong lịch sử của người Việt Nam. Chùa Yên Phú cũng là ngôi chùa mang đầy đủ đặc trưng như thế của chùa làng nước ta.Về Yên Phú, chúng tôi đã được nghe ông già bà cả và người dân ở đây kể về sự tích chùa làng của họ: Ngày xưa, vào thời Bà Trưng đánh Tô Định, có một nhà sư nữ tên là Phương Dung đến trụ trì tại chùa cổ Thanh Vân ( Thanh Vân cổ tự của trang Yên Phú, huyện Thanh Đàm, phủ Thượng Phúc, nay là thôn Yên Phú, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội). Sau một năm tu hành niệm Phật, thì vào một đêm, Phương Dung được Thiên thần báo mộng rằng: Sẽ có hai vị Thủy thần xuất thế làm người. Sáng hôm sau, Phương Dung đi qua cửa miếu, trông thấy hai quả trứng rất dài, bà liền lượm lấy mang về chùa. Bỗng có hai tiếng nổ to rung trời chuyển đất như sấm, trứng nở ra hai chàng trai đầu người thân rắn, da có vảy, tướng mạo oai nghiêm lẫm liệt. Khi ấy, Phương Dung mới hiểu là Thủy thần xuất thế.
         Còn dân làng nghe tin cùng nhau kéo đến chùa thì hai người ấy tự giới thiệu với mọi người rằng: Họ vâng lệnh trời giáng sinh giúp nước, người anh là Trung Vũ, người em là Đài Liệu. Hai người được bà Phương Dung nuôi dưỡng, cho ăn học. Họ học giỏi văn chương, tinh thông võ lược nên tinh mẫu tử ngày càng gắn bó thân thiết. Năm ấy, trời làm đại hạn, cây cỏ lúa mạ đều bị cháy rụi, hai người bảo nhân dân sắm lễ để cầu trời đất, khấn vái một hồi trời bỗng tối mịt mù, phong ba bão táp nổi lên, sấm chớp đùng đùng và mưa như thác đổ, nước tràn bờ ao, ngập bờ ruộng, lúa mạ cây cỏ hồi sinh, năm ấy được mùa lớn, xóm làng an cư lạc nghiệp, đây đó âu ca.
        Thời ấy, vua Hán sai Tô Định thường đến quấy nhiễu xâm lấn bờ cõi nước ta, Bà Trưng phất cờ dấy nghĩa, truyền hịch tứ phương kêu gọi anh tài hào kiệt ra sức giết giặc cứu nước. . Bà Phương Dung cùng với hai con bàn định kế hưởng ứng hiệu triệu của Bà Trưng. Ngay trong một ngày họ đã chiêu mộ được mấy ngàn binh lính, rồi truyền lấy hai mươi lắm tráng đinh của trang Yên Phú cho làm gia thần giúp việc. Cùng ngày, bà Phương Dung cùng hai tướng lệnh cho quân sĩ lên đường nguyện đứng dưới cờ nghĩa của Hai Bà Trưng giết giặc trả nợ nước. Bà Trưng cho hai an hem là Tả, Hữu Tướng quân và chia đường đi diệt Tô Định.
          Giặc tan, Bà Trưng lên ngôi vua. Vua ban tước lệnh khao thưởng tướng sĩ có công, cho ba mẹ con Phương Dung về thăm quê ( Yên Phú), sai dân sửa sang chùa miếu để sau này thờ phụng Phương Dung và nhị vị. Vua ban ba trăm mẫu ruộng, miễn tạp dịch cho dân Yên Phú.
        Lại có truyền thuyết, sau khi Trung Vũ, Đài Liệu mất, có một năm, đê lớn vỡ nước, lũ tràn về, dân lo sợ cầu cứu, hai ông hiển hiện thành hai con đê ngăn lũ. Dân hộ đê vô tình cuốc đứt đuôi một chàng, nên có tên là " Chàng Cụt". Truyền thuyết Chàng Cụt, Chàng Dài có từ  đấy. Tất cả các dấu tích Chàng Cụt, Chàng Dài dấu vết rành rành in trên song" Tô Lịch nhỏ" mãi mãi cho đến bây giờ.
II.                CÁC TÀI LIỆU GỐC
1.      Thần phả sắc phong
Theo cuốn thần phả mà các cụ mặt trận còn lưu giữ được cho đến bây giờ, sách ấy chép vào năm 40 thuộc thiên niên kỷ thứ nhất,  trong cuộc chiến tranh chống quân Hán do Bà Trưng lãnh đạo, trang Yên Phú ngày ấy có hai mươi bảy dũng sĩ và một bà mẹ chiến sĩ tham gia. Sau chiến thắng quân Hán lần thứ nhất, Trưng Vương phong tặng cho tướng sĩ có công lao trong cuộc kháng chiến. Trong số những người được Trưng Vương phong tặng có hai an hem Trung Vũ và Đài Liệu: Hữu Tướng Quân, Phương Dung: Công Chúa), nhà vua còn ban cho họ và nhân dân địa phương các đặc ân khác như :
-          Cho mẹ con Phương Dung về thăm quê quán (thực ấp) là trang Yên Phú, huyện Thanh Đàm để bái tạ tổ tiên xóm làng.
-          Phong cho trang Yên Phú là chính quán của họ và triều đình công nhận dân Yên Phú được làm thần tử cho họ. Nhà vua còn cho tiền bạc để tu bổ chùa miếu phụng thờ họ cho muôn đời sau.
-          Phong cấp cho nhân dân Yên Phú ba trăm mẫu ruộng, cho dân được miễn phu phen, tạp dịch.
1.      Sắc phong
Đến đời Lê Đại Hành, vào những năm Thiên Phúc (980-988), khi kê cứu bách thần, thấy Trung Vũ, Đài Liệu và Phương Dung có công lớn với dân với nước nên đã xác nhận lại sắc chỉ của Trưng triều và gia phong mỹ tự cho Thánh Mẫu Phương Dung là: Trinh Thục Chí Đức, Đoan Trang Cẩn Tiết Hoàng Thái Hậu. Phong cho nhị vị: Hộ Quốc Khang Dân, Phù Vận Đương Uy Dực Thánh Bảo Canh, Hiên Hựu Trợ Thuận Linh Ứng Đại Vương, Bản Cảnh Thành Hoàng.
Kế tiếp các triều đại sau đều có sắc phong, nhưng vì trải qua năm tháng diên cách, bể dâu các thời, thiên tai địch họa phá phách, bởi thế, ngày nay chỉ còn giữ lại được hai mươi ba đạo sắc, kể là quý lắm. Các đạo sắc của triều Lê hiện còn giữ lại được đến bao giờ, đạo sắc sớm nhất là vào năm Dương Hòa thứ 5 (1639), bản muộn nhất là vào năm Khải Định thứ 9 (1924) thời Nguyễn.
2.      Sử sách
Bách thần lục, Lĩnh Nam dị nhân liệt truyện , Chư thần lục, Đại Nam chính biên liệt truyện...cho đến các bộ sử lớn của nước ta như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử cương mục... đều nhận định thống nhất về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và cuộc kháng chiến đánh đuổi Tô Định như sau:
" Thời ấy, triều Hán cho Tô Định luôn mang quân quấy nhiễu xâm lấn bờ cõi nước ta, dân chúng bị trăm chiều khổ cực không người cứu giúp. May có người cháu gái của vua Hùng thuả trước tên gọi là Trưng Trắc. Bà là người hào kiệt trong giới phụ nữ, là bậc thánh thần ở đời, dấy nghĩa phất cờ cử binh giết giặc để rửa hận trả thù nhà. Bởi lẽ lúc ấy, bậc nam nhi thao lược còn vắng vẻ, nên phận gái hồng nhan đã phải gánh vác giang san đương đầu với thiên binh vạn mã của giặc. Bà khấn trời và đọc lời thề trước thần linh sông núi tại cửa sông Hán: " Trời sinh ra một người làm chúa tể cho vạn vật trong trời đất, mối liên hệ của sinh linh, chỗ quan thiết của cây cỏ trải bậc Thánh minh của các đời, Thiên tử thánh vương của các triều đại xưa, triều đình có lòng thương dân lo nước, đức hóa rộng ban, thiên hạ thái bình, quốc gia vô sự. Thế mà ngày nay có giặc ngoại bang Tô Định dê chó, hung tàn bạo ngược giết hại dân đen, khiến cho trời đất thần dân cùng phẫn uất. Thiếp tôi phận gái cháu vua Hùng thủa trước, nhắc tới sinh linh, tỏ lỗi đau lòng, dựng nghĩa trừ tàn. Thiếp nguyện cầu trăm vị tôn thần cùng chứng giám lời thề này, hãy hết lòng phù hộ cho thiếp giết giặc cứu nước cứu dân". Nói đoạn, bà truyền hịch khắp nơi trong nước kêu gọi anh tài hào kiệt. Hưởng ứng lời kêu gọi của Bà Trưng, đã có tới hàng mấy trăm đơn vị nghĩa binh mà người lãnh đạo các nghĩa binh ấy, phần đông là phụ nữ đều gia nhập nghĩa quân của bà. Theo sự điều tra, phát hiện mới gần đây là ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ có tới ba trăm làng có đền thờ các tướng lĩnh của Hai Bà Trưng. Trang Yên Phú có lẽ là một trong ba trăm đơn vị nghĩa binh như vậy đó. Chính nhờ các lực lượng hùng hậu ấy nên Bà Trưng đã đánh đuổi được Tô Định, khôi phục sáu mươi lăm thành, giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của giặc phương Bắc.
Như vậy, sự tích Thành hoàng của thôn Yên Phú sử sách đã chứng minh là có thực, sự tích Phương Dung cũng được sách chép một cách đầy đủ rõ ràng.
III.             MỐI LIÊN HỆ ĐÌNH LÀNG VÀ CHÙA
Sau khi ba mẹ con bà Phương Dung qua đời, đều coi như Thần hoàng của Yên Phú. Bà Phương Dung trước khi tham gia đánh giặc Tô Định, vốn là nhà sư thì sau đó vẫn thờ ở chùa. Trung Vũ và Đài Liệu là người có công với dân với nước thì được làm Thành hoàng, thờ ở đình làng ( nghè làng) theo cách nói của tiền nhân " sinh vi tướng, tử vi thần", nghĩa là " Sống làm tướng, chết làm thần" cũng là để giúp nước cứu dân cả, anh hùng là bất tử.
Vậy đình làng và Thành hoàng làng có quan hệ với nhau như thế nào?
Đình làng và Thành hoàng đều là sản phẩm tinh thần về văn hóa và sinh hoạt xã hội làng xã Việt Nam trong lịch sử. Cũng như chùa, ở mọi làng Việt Nam, bên cạnh một ngôi chùa để thờ Phật thì phải có một miếu ( nghè) và sau này là đình để thờ Thành hoàng. Thành hoàng có tác dụng là một ông chúa cai quản về tinh thần của dân làng, như thế, người dân sống ở làng xã xưa, theo cách nghĩ xưa thì họ được che chở bởi hai thế lực: Chính quyền ( hào mục) và Thần quyền (Thành hoàng). Thần quyền là nơi an ủi, chia sẻ buồn vui, nắng hạn mưa tràn, côn trùng phá hoại mùa màng, đói kém ốm đau, tất thảy họ đều kêu cầu ở Thần. Người dân một mặt cậy nhờ lương tựa vào thần, nhưng lại có mặt tích cực hơn là họ tu dưỡng đạo đức giữ gìn phẩm chất để xứng đáng với Thần. Thần dân tin dựa vào nhau, gắng làm điều thiện, giữ mối hòa hiếu xóm làng, quan hệ làng nước, ngoài quan hệ làng là đến nước. Yêu làng yêu nước, giữ nước giữ làng. Dưới uy linh của các vị Thành hoàng, người ta tự quy định các điều lệ sinh hoạt xã hội, làng xã một cách rất kiên quyết gọi là lệ làng. Nên đã có câu vè " Phép vua thua lệ làng" là bởi tính chất bảo thủ kiên cố ổn định của nó.
Lệ làng gồm: Các nghi thức tế thần, các thủ tục hiểu hỉ tang ma, cưới xin, các công việc giữ gìn trật tự an ninh làng xóm, làm nhiệm vụ đối với tổ quốc, khen thưởng, trừng phạt, hội hè như hội mùa, múa hát... đều được diễn ra dưới mái đình làng. Đình là nơi tụ hội văn hóa của dân làng. Đình Yên Phú đã chứng kiến biết bao cuộc sinh hoạt văn hóa như vậy. Đình Yên Phú xưa còn là nơi quốc tế ( cả nước tế lễ ), tự điển (việc thờ cúng ghi trong lệ quốc gia) có các ông vua của triều Nguyễn về đây tế lễ đôi lần. Tương truyền trước những năm 1940 có nhiều phường hát ca trù, chầu văn của tứ phương thường về đây thi ca thi hát và treo thưởng rất lớn cho phường nào hát hay nhất. Nhưng đình làng đã bị giặc ném bom tàn phá. Các vị bô lão Yên Phú và nhân dân Yên Phú đã rước bài vị của Trung Vũ, Đài Liệu về phối thờ với Phật tổ tại chùa làng.
Vậy là  chùa Yên Phú đảm đương  cả nhiệm vụ lịch sử của đình làng, và cũng từ đấy chùa  làng đã trở thành nơi hội làng của nhân dân Yên Phú. Dân Yên Phú, chùa Yên Phú vinh dự được được nghĩa quân Tây Sơn chọn đây là nơi tập kết bao vây tiêu diệt quân Mãn Thanh ở đền Ngọc Hồi trước khi giải phóng kinh đô Thăng Long vào mùa xuân năm 1789.
A.    THỜI KỲ CÁCH MẠNG (từ năm 1930 đến nay)
Phần trên,  chúng tôi đã giới thiệu về lịch sử yêu nước của người dân Yên Phú ở thời cổ đại và cận đại. Truyền thống yêu nước đó lại được tiếp tục và nhân lên gấp bội, từ khi có Đảng (1930) trong các phong trào đấu tranh chống sưu cao thuế nặng của bọn địa chủ phong kiến cường hào bóc lột., nhân dân đánh đuổi  Pháp, Nhật dành chính quyền. Dưới sự vận động của Đảng, các tổ chức Nông Hội Đỏ được thành lập, thu hút và tập hợp các lực lượng yêu nước chống đế quốc, chống phong kiến. Ngay tháng 5 năm 1930, xã Liên Ninh đã có hai tổ chức như vậy thành lập, thôn Yên Phú đã có người tham gia vào các tổ chức quần chúng ấy của Đảng (vào tháng 6 năm 1945 dưới sự chỉ huy của Đỗ Văn Can và Phạm Văn Gạch đã bí mật tổ chức).
Một trong những đảng viên đầu tiên của Yên Phú là Bí thư Chi bộ Đảng của Liên Ninh, cơ sở hoạt động của Chi bộ ở chùa Yên Phú nhiều năm. Đồng chí Đỗ Văn Can vẫn còn khỏe mạnh và một chân mang tật vì đồng chí nhảy từ nóc chùa xuống đất trong một trận vây ráp chủa của giặc.
Hơn một trăm người ở thôn Yên Phú bất ngờ chặn đánh một tốp lính Nhật, áp tải đoàn xe chở thóc gạo đi qua khu vực chùa và đền Ngọc Hooig. Chiến lợi phẩm trong trận đó liền phân phát cho nhân dân Yên Phú và các làng lân cận. Tháng 8 năm 1945 lại có những người con Yên Phú gia nhập Việt Minh khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.
Giai đoạn 1945-1954, chùa Yên Phú được chọn là cơ sở hoạt động của chi bộ Đảng, nhà sư chủa này đã tham gia Mặt trận Việt Minh. Nhiều lần địch vây ráp, nhờ sự che chở của nhà chùa, sự đấu tranh khéo léo của sư cụ mà cơ sở Đảng vẫn được giữ vững ngay trước mắt kẻ thù. Đảng vẫn lãnh đạo nhân dân tham gia kháng chiến đánh đuổi quân thù. Chùa Yên Phú còn là nơi đón tiếp các đồng chí đảng viên, cán bộ Việt Minh vượt ngục từ Hỏa Lò (Hà Nội) ra. Chính vì vậy, nên sau ngày hòa bình năm 1954, nhà chủa Yên Phú đã được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
Truyền thống yêu nước của chùa Yên Phú phải kể đến thành tích của chùa trong cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của Mỹ (1964-1972). Một lần nữa, chùa này lại được Bộ Quốc phòng lựa chọn làm kho hậu cần để tiếp viện cho các đơn vị bộ đội bảo vệ Thủ đô. Nằm ngay cửa ngõ Hà Nội, cũng là mục tiêu đánh phá của máy bay Mỹ, nhưng nhờ tinh thần cảnh giác cao và giữ bí mật tuyệt đối của nhân dân Yên Phú, trong đó phải nói đến tấm lòng vì dân yêu nước của các sư ở chùa Yên Phú sẵn sang hy sinh, luôn luôn cất giấu, đùm bọc không để lộ mục tiêu cho địch đánh phá. Ngoài việc dành chùa làm kho hậu cần cho bộ đội, các nhà sư Yên Phú còn dành đất đai nhà cửa cho một số cơ quan Trung ương và Hà Nội sơ tán về đây để làm trụ sở duy trì công việc an toàn suốt thời kỳ chống Mỹ.
Ngày nay, chúng ta đang sống trong điều kiện hòa bình, Tổ quốc thống nhất, giả dụ nhà nước có dịp tính đến số công lao đóng góp của các địa phương, từng đơn vị, về cuộc kháng chiến đó, thì chúng tôi thiết nghĩ, chùa Yên Phú cũng phải được hưởng một hình thức thích đáng nào đấy.
Phát huy truyền thống mộ đạo, yêu nước, yêu làng của nhà sư tiền bối trong lịch sử, sư cụ chùa Yên Phú hiện nay có chân trng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Thanh Trì, hăng hái, gương mẫu chấp hành chính sách tín ngưỡng của Đảng, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chống mê tín dị đoan và xây dựng nếp sống văn hóa mới ở địa phương. Cho nên, các nhà sư Yên Phú luôn luôn là những người có công với nước, chùa Yên Phú là di tích lịch sử yêu nước cho chiều dày hàng ngàn năm.
Năm nay, Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội có chủ trương kiểm kê đánh giá xếp loại tất cả các di tích trong toàn thành phố thì chùa Yên Phú rất xứng đáng là một di tích lịch sử xếp hạng của Thủ đô.
Chùa Yên Phú là nơi phụng thờ những người có công với nước, với dân, giữ gìn bảo vệ di tích lịch sử như vậy nhằm giúp chúng ta luôn luôn tưởng nhớ Tiên Thần và làm bài học uống nước nhớ nguồn cho muôn đời con cháu mai sau./.
 Bản để in
TỔ ĐÌNH KIM LIÊN