TỔ ĐÌNH KIM LIÊN
Kiến tạo Phật trường, hoằng dương chính Pháp
03:01 | 05/10/2017 (GMT+7)

Sơ lược lịch sử chùa Yên Phú (Tuệ Quang)

Hưởng ứng lời kêu gọi của bà Trưng, ni sư Phương Dung cùng với hai con bàn định, thống nhất kế hoạch chỉ trong vòng một ngày họ đã chiêu mộ được mấy ngàn binh lính ở làng Yên Phú và các vùng lân cận.Phần I: Dẫn nhập
Di tích lịch sử văn hóa là tài sản văn hoá nghệ thuật thể hiện những thành quả sáng tạo của trí tuệ nhân loại, đặc trung cho từng thời kỳ lịch sử của các thời đại và bản sắc của dân tộc nói chung và của mỗi địa phương, làng xã nói riêng.
            Các di tích lịch sử văn hoá, còn là những kho tàng tư liệu văn hoá nghệ thuật không những phản ánh những thành tựu sáng tạo trí tuệ mà còn phản ánh những tập tục, lối sống thể hiện trình độ văn minh của các thời kỳ phát triển và đấu tranh xây dựng bảo vệ đất nước của cộng đồng cư dân nào đó. Vì vậy, các di tích lịch sử  - văn hoá là những tài sản vô cùng giá trị, cần được giữ gìn và bảo vệ chu đáo. Do đó mà ngay sau khi mới dành được chính quyền, Hồ Chí Minh – Chủ tịch Chính phủ lầm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ban sắc lệnh số 65 ngày 03/11/1945 về bảo tồn các di tichs chính phủ lâm thời nước Việt Nam. Trong đó đã ghi:
            “Cấm phá huỷ đình chùa, miếu và các nơi thờ khác như: cung điện thành quách, lăng mộ chưa được bảo toàn. Cấm phá huỷ những bia đá, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính tôn giáo nhưng có lợi cho văn hoá mà chưa được bảo tồn...”
            Trong số các di tích văn hoá, phần lớn là các di tích Đình Chùa là nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá - tư tưởng truyền thống của các cộng đồng nhân dân, đặc biệt là ở các làng quê Việt Nam. Trên đất nước ta chẳng làng nào mà không có chùa thờ Phật, vì lẽ đó mà trong dân gian đã có thành ngữ “Đất Vua, chùa làng”. Hàng ngày, sớm chiều khi nghe tiếng chuông chùa ngân vang thì người ta cảm thấy tâm hồn thanh thản, nhẹ nhàng, vơi đi những suy tư đời thường, đồng thời cũng làm ấm thêm tình làng nghĩa xóm. đặc trung của mỗi ngôi chùa làng, không những phục vụ đời sống tâm linh cho nhân dân và hoằng dương Phật – Pháp, mà còn gắn liền với lịch sử phát triển Văn hoá - Nghệ thuật của làng xã, tham gia các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước và khuyên dạy điều lành. Bởi vậy, mà chùa làng có tác dụng hướng thiện, an ủi, động viên người dân khắc phục vượt qua khó khăn, nguy hiểm, khắc nghiệt của thiện nhiên, giặc giã để đi đến một tương lai tốt đẹp làm cho quốc thái dân an.
Chùa Yên Phú xã Liên ninh huyện Thanh Trì - Hà Nội là một ngôi chùa cổ trước thời Hai Bà Trưng (năm 40 của thế kỷ I Tây lịch) là một di tích lịch sử văn hoá đã được Nhà nước xếp hạng, mang đủ đặc trưng của một ngôi chùa làng nói trên và đã gắn liền với các phong trào Cách Mạng, yên nước của dân tộc. Đồng thời việc tìm hiểu nghiện cứu sâu giá trị lịch sử của di tích chùa cũng nhằm phát huy tốt hơn vai trò của dia tích đối với đời sống văn hoá và tinh thần của nhân dân và tín đồ phật tử ở làng Yên Phú.
Phần II: Nội dung
I/ Sơ lược lịch sử di tích chùa cổ Yên Phú:
            Chùa cổ Yên Phú còn có tên là “Thanh Vân Cổ Tự” toạ lạc trên khu cánh đồng Lăng, về sau được xây lại thuộc địa bàn thôn Yên Phú – Liên Ninh – Thanh Trì - Hà Nội.
            - Phía Đông giáp làng Phương Nhị
            - Phía Tây giáp đường quốc lộ 1A
            - Phía Nam giáp cánh đồng làng Yên Thái
            - Phía Bắc giáp cơ khí Liên Ninh.
            Chùa cổ Yên Phú đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hoá và hiện đang được duy trì và phát triển tốt đẹp. Theo các tài liệu của “Bộ lễ nghi về các Đức Thượng Đẳng thuộc Bắc Bộ”, tài liệu “chùa yên Phú – biểu tượng yêu nước truyền thống của nhân dân thôn Yên Phú” (Viện khoa học xã hội 1998) thần phả và sắc phong (hiện còn lưu giữ), sách “Đạo Phật việt Nam” (Hoà thượng thích Đức Nghiệp 1995) và truyền thuyết dân gian thì chùa cổ Yên Phú đã có dấu ấn lịch sử về đạo pháp, dân tộc và truyền thống yêu nước vẻ vang.
            Sau đời vua Hùng thứ 18 ở núi Lam Sơn thủ phủ Nghĩa Hưng, huyện Thượng hiền, làng Lưu xá có ông Trương Công Huý Điệu Điều, ống lấy bà vợ cùng quê tên là Phùng Thị Huý Huê, bà này dòng dõi trâm oanh, thi thư thế phiệt, sánh vai với ông thật là đẹp đôi. Ông bà sinh được một số con trai, sau sinh được 1 người con gái đặt tên là Phương Dung. Nàng có vẻ đẹp chim sa cá lặn, phong tư yểu điệu xinh đẹp tuyệt vời. Đến tuổi kết duyên, bà vẫn không có ý định lấy chồng, mà chỉ say mê tu học, nghiên cứu đạo phật và cuối cùng dưới sự cho phép của cha mẹ bà đã xuất gia đầu Phật, trở thành nhà tu hành mô phạm.
            Một hôm, nhà sư (Phương Dung) đi qua phủ Phụng thiên (về sau là thánh Thăng Long) châu Thường Tín, huyện Thanh Đàm (nay là huyện Thanh trì - xã Liên Ninh) đi đến làng Yên Phú thấy một ngôi chùa đẹp, phong cảnh hữu tình, bèn tự nguyện ở lại trụ trì chùa, sớm tối hương đăng thờ Phật.
            Sau một năm tu luyện tại chủa, vào một đêm nhà sư (Phương Dung) được thiên thần báo mộng rằng: “Làng này đức dày trời đã soi xét đến, cho hai vị thuỷ thần xuất thế đầu thai làm, con chớ lo ngại gì cả”. Ngày hôm sau nà Phương Dung đi qua cửa miếu, chợt trông thấy hai quả trứng to và rất dài, bà liên đem về chùa. Về đến chùa bống có hai tiếng nổ rung trời chuyển đất, từ hai quả trứng to liền hiện ra hai chàng trai đầu người mình rắn, da có vẩy, tướng mạo oai nghiêm, vóc người to lớn, khi đó bà Phương Dung mới hiểu đó chính là hai vị thần đã báo mộng xuất thế. Hôm đó là ngày 22 tháng 04 năm Quý Tỵ.
            Nhân dân làng yên Phú nghe tin lạ, liền kéo nhau đến chùa, hai chàng trai thầy dân làng đến đông thì bảo mọi người rằng: “anh em ta là thuỷ thần trời giáng xuống giúp dân giúp nước”. Người anh tên là trung Vũ, người em tên là Đài Liệu. Hai người được bà phương Dung nuôi dưỡng chu đáo, tình mẫu tử ngày càng gắn bó thiết tha, bà lại cho ăn cho học đầy đủ. hai anh em đều văn võ song toàn. Năm ấy, trời đại hạn, lúa má cháy khô, hai người bảo nhân dân lập đàn cầu trời đất phù hộ, rồi họ khấn vái một hồi,  trời bỗng tối mù mịt, sấm chớp đùng đùng, phong ba bão táp nổi lên, mưa xuống như thác đổ, ruộng đồng đầy nước, lúa mácây cỏ đều được hồi sinh. Năm ấy được mùa lớn, nhân dân ấm no, xóm làng an cư lập nghiệp phấn khởi ca ngợi công đức của hai ông.
            Ngay thời gian đó, vua Nam hán sai Tô Định đưa quân sang xâm lược bờ cõi nước ta. Họ Triệu bị diệt, liền chạy kêu cứu cháu gái vua Hùng là bà Trưng Trắc. Bà Trưng liền phất cờ dấy nghĩa truyền lệnh tứ phương, kêu gọi anh tài, hào kiệt ra sức giết giặc cứu dân, cứu nước. Hưởng ứng lời kêu gọi của bà Trưng, ni sư Phương Dung cùng với hai con bàn định, thống nhất kế hoạch chỉ trong vòng một ngày họ đã chiêu mộ được mấy ngàn binh lính ở làng Yên Phú và các vùng lân cận. Trong số đó mẹ con ni sư Phương Dung chọn tuyển được 25 tráng binh của làng Yên Phú làm cho gia thần nội thủ. Ngay trong ngày đó bà Phương Dung cùng hai con cho quân sĩ lên đường, vượt sông chèo núi tiến đến Đại bản doanh Trưng Vương Nữ, xin đứng dưới cờ Hai Bà Trưng, Bà Triệu và nguyện thề quyết tâm giết giặc trả nợ cứu nước. Bà trưng thấy hai chàng thanh niên to cao vạm vỡ toàn tài bèn nói: “Đây là người trời giáng xuống chứ không phải người trần” bèn phong cho bà Phương Dung công chúa, phong cho hai người con là hai ông Tả - Hữu tướng quân và chia đường đi diệt Tô Định.
            Đánh tan giặc, bà Trưng lên ngôi Vua, bàn chiếu triệu hồi hai ông trở về triều đình và mở tiệc khen thưởng tướng sĩ. Ngày đó là ngày 15 - 8 âm lịch. Tiếp theo bà Trưng ban chiếu cho ba mẹ con trở về thăm quê Yên Phú. Đến nơi ba mẹ con cùng ngồi nghỉ ở cánh đồng, bỗng nhiên đất trời tối sầm lại, phong ba bão táp nổi lên. Lúc đó thái bà (bà Phương Dung) cưỡi xe mây bay lên trời biến mất. ngay tức khắc hai ông tự băng mình ra sông Kim Ngưu cũng biến mất, đó là ngày 07 tháng 11 âm lịch cùng năm.
            Tất cả binh sĩ và nhân dân đều sợ hãi, bèn làm biểu tấu về triều đình, vua lệnh về lập đàn hành lễ ngay và ban cho nhân dân Yên Phú các đặc ân như:
            - Phong chính quán cho 3 mẹ con Phương Dung là làng Yên Phú và nhân dân thôn Yên Phú được làm thần tử cho họ, nhà vua còn cho tiền bạc để tu bổ chùa miếu phụng thờ họ muôn đời sau.
Phong cấp cho nhân dân làng YYen Phú 300 mẫu ruộng và cho nhân dân được miễn phu phen tạp dịch.
Đến đời Lê Đại Hành (980 - 988) nhà vua kê cứu bách thần thấy Trung Vũ, Đài Liệu và bà Phương Dung đã có công lớn với dân với nước nên đã khẳng định lại sắc chỉ của Trưng Triều và gia phong mỹ tự cho Thánh mẫu Phương Dung là: “Trinh Thục, Chí Đức, Đoan Trang, Cẩn Tiết Hoàng Thái Hậu”.
Phong cho nhị vị đức ông là:
“Hộ quốc khang dân, Phù Vân, Dương Vũ, Uy Dực, Thanh Bảo Canh Hiểu Hựu Trợ Thuận Linh ứng đại vương, bản cảnh thành hoàng”.
Tiếp các triều đại sau đều có sắc phong cho bà Phương Dung và 2 đức nhưng biến động xã hội và chiến tranh đến nay chỉ còn lưu dữ được 23 đạo sắc phong của các triều đại Lê, Nguyễn. Đạo sắc sớm nhất vào thời Dương Hoa thứ 5 (1639) đạo sắc muộn nhất vào thời Khải Định thứ 9 (1924).
Sau khi ba mẹ con bà Phương Dung đã về trời (7 - 11 âm lịch) nhân dân làng Yên Phú tôn thờ các vị như Thành Hoàng làng. Bà Phương Dung trước khi tham gia đánh giặc Tô Định vốn là nhà sư, nên dân làng thờ bà ở chùa. Hai đức ông TRung Vũ và Đại Liệu là người có công lớn với dân với nước được phong là Thành Hoàng làng và được thờ tự tại đình. ( Sinh vi tướng, tử vi thần ) anh hùng là bất tử.
Trong cuộc kháng chiến vĩ đại dân tộc, bọn giặc Pháp đã ném bom tàn phá đình Yên Phú nên các cụ bô lão và nhân dân Yên Phú đã rước bài vị của hai tướng quân về phối thờ với Phật tổ tại chùa Yên Phú. Do đó chùa Yên Phú đảm đương thêm cả nhiệm vụ lịch sử của đình làng và cũng từ đấy chùa làng đã trở thành nơi hội tụ việc làng, các cuộc họp bô lão cũng được tổ chức tại đây.
Trong lịch sử chống quân xâm lược của dân tộc, chùa Yên Phú còn được vinh dự nghĩa quân Tây Sơn chọn làm điểm tập kết quân để tiến hành tiêu diệt quân Mãn Thanh ở Ngọc Hồi - Đầm Mực - Đống Đa và giải phóng thủ đô Thăng Long vào mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789.
Đến thời cách mạng do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo (1930)làng Yên Phú  - Chùa Yên Phú là những nơi có cơ sở hoạt động cách mạng cho cán bộ Đảng ta. Chùa Yên Phú còn là cơ sở hoạt động chi bộ đầu tiên của xã Liên Ninh. Có lần bị giặc bao vây, đồng chí Đỗ Văn Can bí thư chi bộ đã nhảy từ trên nóc chùa xuống đất, một chân phải mang thương tật. Tháng 8 năm 1945 nhân dân Yên Phú cũng đã có nhiều người gia nhập Việt Minh tham gia khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Cũng thời gian đó hơn 100 người đã tập kết và bố trí ở chùa Yên Phú, bất ngờ chăn đánh tan một tốp lính Nhật áp tải đoàn xe  trở thóc gạo đi qua khu vực chùa về đồn Ngọc Hồi và ta đã lấy được thóc gạo phát cho nhân dân.
Thời kỳ 1945 - 1954 chùa Yên Phú là cơ sở hạt động của chi bộ Đảng xã Liên Ninh. Vị sư trụ trì chùa cũng tham gia hoạt động trong mặt trận Việt Minh. Nhiều lần địch vây ráp, nhờ sự che chở của nhà chùa, sự đấu tranh khéo léo của sư cụ mà cơ sở hoạt động của Đảng vẫn giữ vững ngay trước mắt kẻ thù. Đảng vẫn duy trì được sự lãnh đạo nhân dân tham gia kháng chiến đánh đuổi quân thù.
Chùa Yên Phú còn là nơi dón tiếp đảng viên và cán bộ của đảng vượt ngục Hoả Lò về tiếp tục hoạt động cách mạng. Chính vì vậy, nên sau ngày hoà bình năm 1954, chùa Yên Phú được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất.
Thời kỳ kháng chống chiến tranh phá hoại của Mỹ (1964 - 1972 ) chùa Yên Phú lại được chọn làm cơ sở hậu cần của Bộ Quốc phòng, tiếp viện cho các đơn vị bộ đội bảo vệ Thủ đô. Làng Yên Phú nằm ở cửa ngõ phía Nam của Thủ đô Hà Nội, nên cũng là mục tiêu đánh phá của giặc Mỹ, nhưng nhờ tinh thần cảnh giác cao và giữ gìn bí mật tốt của nhân dân và các vị sư trụ trì nên đã không để lộ mục tiêu. Các nhà sư ở chùa còn giành nhiều nơi trong nội tự làm kho hậu cần cho quân đội, giành đất đai vườn chùa làm trụ sở hoạt động cho cán bộ một cách an toàn trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
II. Kiến trúc tượng thờ
1.Tổng thể mặt bằng kiến trúc nghệ thuật
Như đã nói ở trên, chùa cổ Yên Phú là nơi ni sư Phương Dung trụ trì đã được xây dựng trên khu đất cánh đồng Lăng diện tích rộng 7.000 m2 vào những năm 40 của thế kỷ I Tây Lịch, về sau do chiến tranh và sự biến động của đất nước, ngôi chùa đã bị hỏng nặng, nhân dân Yên Phú đã chuyển chùa về khu đất vườn Miếu có diện tích rộng 720 m2. Khu đất của chùa ở cánh đồng Lăng hiện nay chỉ còn lại ngôi mộ của bà Phương Dung có chiều cao 3m, hình tròn xoáy chôn ốc có đường kính 20m. Sau một thời gian ngôi chùa về xây dựng ở địa điểm thứ 3 và tồn tại cho đến ngày nay. Địa điểm của chùa Yên Phú hiện nay đã là nơi tập kết nghĩa quân Tây Sơn để tiến đánh tiêu diệt quân Thanh ở Ngọc Hồi - Đầm Mực - Đồng Đa. Đến thời nhà Nguyễn  ( Triều Bảo Đại ) nhân dân Yên Phú đã cùng vị sư trụ trì đã tiến hành tôn tạo lớn: xây dựng lại toàn bộ ngôi chùa théo hướng Tây, do đó mà lịch sử ngôi chùa là rát cổ, nhung kiểu kiến trúc – nghệ thuật của ngôi chùa thuộc vào kiểu kiến trúc thời nhà Nguyễn.
Tông thể mặt bằng của ngôi chùa là 1.800m2 trong đó khu nội tự là 1.260m2 có phong cảnh đẹp, không gian thoáng mát thanh tịnh tôn nghiêm. Bước chân vào cổng chùa quý khách thập phương đều cảm thấy lòng mình nhẹ nhàng tâm hồn thanh thản, vơi bớt những ưu tư vất vả đời thường.
Ngôi Tam Bảo được xây dựng vào năm Canh Ngọ (1930 - Thời Bảo Đại Hoàng Triều năm thứ 5) có diện tích rộng 100m2 bên phải là Tam Bảo là nhà thờ Thành Hoàng làng ( hai ông tướng ) và phủ thờ Mẫu. Bên trái Tam Bảo là nhà Tăng có diện tích rộng 100m2 cùng hướng Tây với ngôi Tam Bảo. Bên trái nhà Tăng là thờ Mẫu và chư vị Tổ Ni có diện tích rộng 150m2 hai đầu nhà Tổ Ni là những phòng ở và sinh hoạt của các vị sư trụ trì và của tăng chúng. Nói chung kiểu  kiến trúc nghệ thuật của chùa Yên Phú là nghệ thuật kiến trúc triều Nguyễn. Phần tranh trí kiến trúc tập trung ở các hạng mục chính như cửa võng, hoành phi, câu đối, hương án bàn thờ..... các hoa văn trang trí gắn với chủ đề Tứ Linh, Tứ Quý nổi bật tính nghệ thuật cao của thời xưa nhưng vẫn đáng chú ý là bảo tồn được các nghệ thuật bảo tồn trước đó.
Ngoài hệ thống chùa đã nói ở phía ngoài là khu vườn tháp, đây là khu vườn đẹp có nhiều cây cổ thụ, cây cảnh và có nhiều loại hoa đẹp, có hương thơm êm dịu phù hợp với không gian nơi cửa Thiền. Toạ lạc giữa sân trước cửa chùa là tượng Bạch Y Quan Âm với dáng vẻ thanh thoát  tự tại làm cho không gian cửa thiền thêm uy nghiêm tráng lệ. Vườn tháp là nơi an táng các vị tổ sư đã có công xây dựng, bảo tồn và tu hành tại chùa ( tất cả có 8  tháp ) vườn tháp cũng làm tăng thêm không gian đẹp và tôn nghiêm nơi cửa Thiền, đồng thời là một dấu tích xác thực ghi nhận các bậc chân tu đã từng tu chứng tại ngôi chùa Yên Phú.
2.Tượng thờ
Tượng thờ ở chùa Yên Phú so với các chùa khác không có gì khác nhiều, đều bài chí tượng theo nguyên tắc chung ở các ngôi chùa lang Việt Nam.
a.       Bài chí tượng thờ Tam Bảo:
+ Tầng trên cùng ở hậu cung là 3 pho tượng Tam Thế thờ các chư Phật Quá khứ – Hiện tại – Vị lai. Tượng được tạo dáng uy nghi, ngồi trên toà sen, đầy lòng từ bi – hỉ xả.
+Toà tiếp theo phía dưới là tượng Phật Di Đà tam tôn được tạo theo tư thế ngồi kết già trên đài sen. Bên phải Đức Di Đà là tượng Đức Đại Thế Chí, bên trái Đức Di Đà là tượng Quan Âm Bồ Tát được tạo thế đứng trên toà sen.
+ Toà tiếp theo đứng phía dưới là tượng Đức Phật Thích Ca được tạc theo kiểu dáng Đức Thích Ca niêm hoa ngồi kết già trên đài sen. Hai bên là hai vị Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát.
+ Lớp tiếp là toà Cửu Long, gồm có Đức Phật Thích Ca sơ sinh, xung quanh là các tượng Bồ Tát, các vị Tiên.
+ Bên phải toà Cửu Long là tượng Văn Thù ngồi trên lưng Sư Tử xanh.
+ Bên trái toà Cửu Long là tượng Phổ Hiền ngồi trên lưng Bạch Tượng.
+ Lớp sau hậu cung, cao ngang với lớp tượng tam Thế, bên trái là tượng Quan Âm Thị Kính bế con, bên phải là tượng Đức Thánh Mẫu tu tại chùa.
+ Ngoài tiền đường hai bên trước toà Tam Bảo là hai bức tượng Hộ Pháp.
Bên phải là tượng Thiện Hữư ( ông Thiện )
Bên trái là tiượng ác hữư ( ông ác )
+ Tiếp bên gnoài tượng Hộ Pháp:
Bên phải ông Thiện là Đức Chúa Ông ngồi trong khám.
Bên trái là Đức Thánh Hiền ngồi trong khám.
Trước toà Tam Bảo còn có các bức Y Môn, các cửa võng, hoành phi đwoch trang trí và làm théo lối hao văn thời Nguyễn.
b.      Bài trí tượng thờ ở nhà Tổ Tăng:
+ Toà trên cùng là tượng tổ Đạt Ma.
+ Toà dưới thờ Đức Pháp Chủ giáo hội phật giáo Việt Nam ( Cố HT Thích Đức Nhuận ).
c.       Bài trí tượng thờ nhà Mẫu - Tổ Ni:
+ Gian giưã thờ ba vị Quốc Mẫu.
+ Gian bên phải thờ Đức Thánh Trần Triều Đại Vương ( Hưng đạo Đại Vương )
+ Gian bên trái thờ tượng các vị Tổ Ni (gồm 6 vị).
d.      Hoành phi câu đối - cửa võng:
trên toà Tam Bảo có ba lớp cửa võng. Trên mỗi lớp cử võng điều có “ Cửu Long phún thuỷ “.
Hoành phi trước toà Tam Bảo:
Tương quan nhi thiện
(Năm Khải Định mùa thu ất Sửu)
Từ Quang Phổ Chiếu
Khải Định năm thứ nhất
Vạn Đức từ tôn
( Bảo Đại năm thứ nhất )
+ Ngoài cung toà Tam Bảo còn có bức Đại tự mang tên:
“ Khánh Hưng Tự “
( Thành Thái nhân ngọ niên )
+ Hai bên toà Tam Bảo có đôi câu đối:
Kim Liên Thuý Yết Thiên hoa pháp
Tuệ nhật quang lâm vạn cảnh tân
( Bảo Đại mậu thìn niên )
* Nói chung các tượng thờ ở chùa Yên Phú đều mang dáng dấp phong cách mỹ thuật thời Nguyễn. Đáng tiếc qua thời kỳ biến động, thăng trầm của đất nước nên nhiều pho tượng cổ quý không còn được lưu giữu tại chùa.
Phần III: Kết luận
Từ những tư liệu khảo cứu thực tế về di tích lịch sử chùa cổ Yên Phú nói trên, có thể rút ra kết luận:
Chùa cổ Yên Phú là một trong số ít chùa được xây dựng sớm nhất vào năm 40 thế lkỷ 1 Tây lịch kể từ khi đạo Phật từ ấn Độ. truyền sang Việt Nam (thế kỷ III trước Tây lịch) đã có chiều dày lịch sử gần 2000 năm.
Ngôi chùa cổ được toạ lạc trên một khuôn viên đẹp (địa điểm thứ 3) sát đường quốc lộ 1A rất thuận tiện cho việc giao thông liên lạc và là một địa điểm trung chuyển rất tối cho các nhu cầu của nhân dân. Mặc dù đã trải qua nhiều biến động của lịch sử và đất nước, nhưng nhân dân và các thế hệ sư trụ trì vẫn tiếp tục bảo vệ, tôn tạo khang trang và giữ được những nét đặc trưng của ngôi chù cổ.
Phát huy truyền thống tốt đẹp về Đaọ -pháp, dân tộc và yêu nước của các vị tiền bối, các thế hệ trụ trì cũng đã hăng hái gương mẫu chấp hành chính sách tín ngưỡng của Đảng góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chống mê tín dị đoan và xây dựng nếp sống văn minh - văn hoá mới địa phương. Chùa Yên Phú là di tích đã xếp hạng, một biểu tượng yêu nước của dân làng Yên Phú ngày càng được nhân dân và các vị sư tiếp tục xây dựng tôn tạo chù về nhieèu mặt khang trang đẹp hơn. Hiện nay chùa là nơi thờ những người có công với dân với nước, thể hiện đạo lý: “Uống nước nhớ nguồn” cho muôn đời các thế hệ sau.
Từ những điều trên đây càng làm sáng tỏ hơn ý nghĩa lịch sử của di tích cổ Yên Phú: nơi tu hành Hoằng Dương Đạo Pháp đúng với giáo lý của Đức Phật và đã làm tốt mối quan hệ giữa đạo và đời, luôn có tác dụng giáo dục truyền thống trong nhân dân và phật tử địa phương. Đã góp phần quan trọng vào đời sống tinh thần của nhân dân làng Yên Phú và đặc biệt qua đây chúng ta biết thêm được lichj sử lâu đời của làng Yên Phú với truyền thống đấu trnah của dân làng đựoc phát triển từ ngàn năm nay.
                                                                                                          Tuệ Quang
 Bản để in
TỔ ĐÌNH KIM LIÊN